Ăn nhiều đường và bột mì làm tăng nguy cơ gan nhiễm mỡ do gan phải biến lượng carb dư thừa thành chất béo để lưu trữ. Khi ăn quá nhiều carbs (đường và bột mì), gan liên tục tạo ra chất béo và thường không thể xử lý đủ nhanh. Vì vậy, chất béo sẽ bị kẹt bên trong gan. Khi hơn 5% gan bị chất béo xâm nhập sẽ bắt đầu gặp khó khăn trong việc chuyển hóa chất béo và lọc bỏ các độc tố gây béo phì. Mắc gan nhiễm mỡ khiến gan hoạt động chậm chạp hơn và gây nguy hiểm cho sức khỏe tổng thể. Ăn những thực phẩm lành mạnh là cách đốt cháy chất béo, thải độc gan.

Một lượng protein vừa phải mỗi lần ăn cung cấp cho gan những nguyên liệu thô cần thiết để hoạt động tối ưu thải độc gan.
Hãy coi gan như một nhà máy sản xuất chất béo, tùy thuộc những gì ăn vào có thể “bật hoặc tắt” quá trình sản xuất chất béo. Đường, carbs đã qua chế biến và rượu là những thành phần chính thúc đẩy quá trình sản xuất chất béo. Chỉ cần tránh xa trong vài tuần sẽ ngăn chặn việc liên tục giải phóng chất béo mới, giúp gan có thời gian để loại bỏ các chất béo tắc nghẽn hiện có.
Những thực phẩm thay thế đường và carbs cũng rất quan trọng. Một lượng protein vừa phải mỗi lần ăn cung cấp cho gan những nguyên liệu thô cần thiết để hoạt động tối ưu. Bổ sung nhiều thực phẩm tốt cho sức khỏe gan, chẳng hạn như một ít trái cây ít đường và nhiều rau, chứa nhiều hợp chất giúp chữa lành và bảo vệ gan.
Nghiên cứu cho thấy các nguồn chất béo tự nhiên tốt cho gan nhiễm mỡ, sau 10 ngày ăn theo cách này kết quả xét nghiệm chức năng gan có sự thay đổi.

Bổ sung những siêu thực phẩm thải độc gan dưới đây vào chế độ ăn uống giúp cải thiện sức khỏe gan:
Dầu dừa
Giống như tất cả các chất béo tự nhiên, dầu dừa giúp giảm cảm giác thèm đường. Thêm vào đó, các nghiên cứu sơ bộ cho thấy dầu dừa hỗ trợ thải độc gan ngay cả đối với những người không chuyển sang chế độ ăn uống lành mạnh hơn.
Siêu thực phẩm thơm ngon này được biết là có lợi cho sức khỏe bao gồm acid amin và chất dinh dưỡng hỗ trợ hình thành mức cholesterol khỏe mạnh trong cơ thể. Dầu dừa còn có tác dụng tốt cho gan, dầu dừa rất giàu chất béo trung tính chuỗi trung bình (MCT) tự nhiên – acid béo dễ dàng hấp thụ vào máu, do đó cung cấp dinh dưỡng cho tế bào và ít có khả năng được lưu trữ dưới dạng chất béo.
So với các chất bổ sung hoặc các sản phẩm “giải độc” không kê đơn, dừa an toàn hơn trong việc làm sạch gan vì MCT không được lưu trữ dưới dạng chất béo và được sử dụng để tạo năng lượng ngay lập tức.
Dừa cũng được biết là làm giảm độc tố tích tụ trong máu. Năm 2013, một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Sinh lý học và Dược lý Cơ bản và Lâm sàng năm 2013 cho thấy dầu dừa nguyên chất thực sự có thể bảo vệ gan khỏi các loại thuốc kháng sinh.
Mục tiêu là một muỗng canh (15g) đến hai muỗng canh (30g) mỗi ngày.
Rau lá xanh

Rau lá xanh giúp thải độc gan.
Bông cải xanh (súp lơ xanh), cải xoăn, cải rổ và rau bina đều có nhiều vitamin, khoáng chất và chất xơ nhưng ít calo, giúp tăng mức độ glutathione, một chất chống oxy hóa có tác dụng giải độc gan và chống viêm. Nhóm rau này có thể có lợi cho sức khỏe tổng thể, bao gồm cả sức khỏe gan. Giống như các loại rau khác trong danh sách này, rau lá xanh chứa nhiều chất chống oxy hóa giúp bảo vệ cơ thể chống lại các gốc tự do nguy hiểm.
Ngoài việc làm giảm tác động của các gốc tự do trong cơ thể, một số loại rau lá xanh như rau bina, dường như mang lại nhiều lợi ích cụ thể hơn cho gan. Một nghiên cứu gần đây cho thấy việc tiêu thụ rau bina sống làm giảm nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ và những người ăn nhiều rau bina thì nguy cơ mắc bệnh thấp hơn. Mặc dù rau bina nấu chín vẫn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu như chất xơ nhưng trong nghiên cứu này, rau bina nấu chín không có tác động đáng kể đến việc giảm nguy cơ gan nhiễm mỡ.
Mục tiêu là hai cốc (160g) rau mỗi ngày.
Tỏi

Tỏi có chứa allicin, là một hợp chất sulphur mà gan cần để tiến hành chức năng thải độc.
Tỏi giúp gan sản xuất mật để phân hủy chất béo, từ đó giúp cơ thể dễ dàng đốt cháy carbs để lấy năng lượng. Tỏi có chứa allicin, là một hợp chất sulphur mà gan cần để tiến hành chức năng thải độc.
Hợp chất allicin sẽ được hình thành trong quá trình nhai hoặc nghiền tỏi. Đây là chất có khả năng tiêu diệt các vi khuẩn có hại, góp phần giúp thanh lọc, bảo vệ gan và các cơ quan khác trong hệ tiêu hóa. Bên cạnh đó, tỏi cũng sẽ kích hoạt các enzyme cần thiết để phá vỡ và đào thải độc tố ra khỏi cơ thể.
Cách tốt chỉ có để thải độc gan bằng tỏi là ăn tỏi tươi. Tuy nhiên, nếu cảm thấy quá khó ăn thì cũng có thể chế biến tỏi cùng với các nguyên liệu khác trong món ăn hàng ngày. Lưu ý là tỏi đã băm thì nên dùng ngay. Để càng lâu thì các thành phần có lợi trong tỏi sẽ càng dễ mất đi.
Nên ăn 1-2 tép (3-6g) mỗi ngày có lợi cho sức khỏe. Để hơi thở không bị mùi tỏi có thể thêm mùi tây tươi, bạc hà hoặc táo trong thực đơn.
Cà phê

Uống cà phê giúp giảm nguy cơ xơ gan.
Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa việc tiêu thụ cà phê và lá gan khỏe mạnh hơn do chất chống oxy hóa mạnh mẽ của cà phê. Cà phê là một trong những đồ uống tốt chỉ có có thể uống để tăng cường sức khỏe gan.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng uống cà phê bảo vệ gan khỏi bệnh tật, ngay cả đối với những người vốn đã có những lo ngại về sức khỏe liên quan đến cơ quan này. Các nghiên cứu trong một đánh giá nghiên cứu năm 2016 đã chỉ ra rằng uống cà phê giúp giảm nguy cơ xơ gan hoặc tổn thương gan vĩnh viễn ở những người mắc bệnh gan mạn tính.
TIN LIÊN QUAN

Cũng theo một đánh giá nghiên cứu năm 2016, uống cà phê cũng có thể giúp giảm nguy cơ phát triển một loại ung thư gan phổ biến. Nó cũng có tác dụng tích cực đối với bệnh gan và viêm.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nó thậm chí còn liên quan đến nguy cơ tử vong thấp hơn ở những người mắc bệnh gan mạn tính. Những lợi ích lớn chỉ có được thấy ở những người uống ít chỉ có 3 tách cà phê mỗi ngày.
Đánh giá năm 2016 cho thấy những lợi ích này dường như xuất phát từ khả năng ngăn chặn sự tích tụ chất béo và collagen. Cà phê cũng làm tăng mức độ glutathione chống oxy hóa. Chất chống oxy hóa trung hòa các gốc tự do có hại, được sản xuất tự nhiên trong cơ thể và có thể làm hỏng các tế bào.
Mục tiêu là một đến hai cốc mỗi ngày.
Nghệ

Nghệ giàu chất curcumin chống oxy hóa, rất tốt cho gan.
Loại gia vị này rất giàu chất curcumin chống oxy hóa, rất tốt cho gan, các nghiên cứu cho thấy nó thậm chí có thể cải thiện quá trình đốt cháy chất béo ở những người có vấn đề về gan do di truyền. Thành phần curcumin có trong nghệ có khả năng hỗ trợ giải độc gan, hỗ trợ kích thích cơ thể chuyển hóa chất béo, hỗ trợ làm giảm lượng chất béo tích tụ trong gan. Ngoài ra còn đóng vai trò trong việc hỗ trợ giảm tiến triển của những tổn thương ở gan trong các trường hợp gan nhiễm mỡ không do rượu, viêm gan siêu vi C…
Mục tiêu cho một đến hai muỗng cà phê mỗi ngày.
Bữa sáng:
Lựa chọn 1: Hai quả trứng trộn với rau, 1/2 quả bơ với nước cốt chanh và muối, 1/2 cốc quả mọng.
Lựa chọn 2, sinh tố thải độc gan: Cho vào máy xay sinh tố 1/2 cốc quả mâm xôi đông lạnh, một muỗng bột protein thực vật, một nắm hạt bí ngô, một nắm rau bina, một cốc nước cốt dừa không đường, một chút bột nghệ và đá cho vừa đủ.
Bữa trưa và bữa tối:
Lựa chọn 1, súp súp lơ: Làm cho hai đến ba phần ăn.Trong bốn cốc nước luộc rau, đun nhỏ lửa một củ hành tây thái hạt lựu, hai cọng cần tây thái hạt lựu, hai củ cà rốt thái hạt lựu, một phần súp lơ thái hạt lựu. Làm mát từ từ và nghiền nhuyễn (theo mẻ trong máy xay hoặc sử dụng máy xay ngâm). Nêm nếm vừa miệng. Trên mỗi khẩu phần có 114g thịt ức gà xé nhỏ và một thìa hạt bí ngô và nước cốt dừa.
Lựa chọn 2, salad : 114 – đến 170g protein nạc; hai cốc rau xanh trộn; một đến hai cốc rau salad không chứa tinh bột (bao gồm các loại rau họ cải và giàu lưu huỳnh); 1/4 cốc quả hạch hoặc hạt; ô liu hoặc bơ tùy chọn với dầu ô liu, các loại thảo mộc và gia vị.
Lựa chọn 3: 170g cá hồi nướng muối, tiêu và mù tạt; bông cải xanh hấp không giới hạn, bơ thực vật và chanh.
Lựa chọn 4: 114g – 170g bò bít tết nạc được tẩm gia vị vừa ăn, cải xoăn xào dầu dừa, 1/2 củ khoai lang nướng hoặc 1/2 cốc củ cải nướng.
Nguồn: https://suckhoedoisong.vn/che-do-an-lanh-manh-dot-chay-chat-beo-thai-doc-gan-16923121221084021.htm
Bằng khen Công đoàn cơ sở có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua và hoạt động tổ chức công đoàn năm 2023 do Liên Đoàn Lao Động Quận 3 trao tặng.

Bằng khen Công đoàn cơ sở có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua và hoạt động tổ chức công đoàn năm 2021 do Liên Đoàn Lao Động Quận 3 trao tặng

Bằng khen chung tay cùng quận 3 trong công tác phòng chống dịch Covid-19 của Uỷ Ban Nhân Dân Quận 3 cấp

Carbohydrate hay carb là một trong những chất dinh dưỡng bị tiêu thụ vượt quá nhiều chỉ có và nó thu hút được rất nhiều sự chú ý. Tuy nhiên, bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng carbs có thể giúp (hoặc gây hại) cho chế độ ăn kiêng của chúng ta, tùy thuộc vào cách chúng được ăn.
Theo ThS.BS. Lê Thị Hải, nguyên Giám đốc Trung tâm tư vấn dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, carbs là một trong 3 thành phần chất dinh dưỡng chính của cơ thể có trong thức ăn của con người, cùng với protein (chất đạm) và lipid (chất béo), carbs là các chất dinh dưỡng đa lượng.

Carbohydrate có 3 dạng: tinh bột, đường và chất xơ. Tinh bột là carbohydrate phức tạp, đường có thể có sẵn hoặc được thêm vào thực phẩm và chất xơ là carbohydrate không tiêu hóa được. Sự cân bằng phù hợp của các loại carbohydrate này ảnh hưởng tích cực tới sức khỏe, bao gồm ngăn ngừa hoặc kiểm soát các tình trạng mạn tính như béo phì và bệnh tim.
Dưới đây là những điều bạn nên biết về carbs giúp bạn đưa ra quyết định sáng suốt về cách chuẩn bị chế độ ăn uống tốt với chất dinh dưỡng đa lượng này.
1. Ăn nhiều carbs không gây bệnh đái tháo đường
Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ, nguyên nhân của bệnh đái tháo đường vẫn chưa được biết nhưng là kết quả của tổn thương tuyến tụy (đái tháo đường type 1) hoặc kháng insulin (đái tháo đường type 2). Các nghiên cứu đã chứng minh, ăn quá nhiều carbs không kích hoạt phản ứng này.
Hiện chưa có cơ sở khoa học để khẳng định ăn nhiều carbs gây bệnh đái tháo đường. Các yếu tố về lối sống như thừa cân, béo phì, lười vận động hoặc có khuynh hướng di truyền có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường.
2. Carbs cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ thể
Carbohydrate là nguồn nhiên liệu ưa thích của cơ thể và là nguồn nhiên liệu duy chỉ có của não. Nó là chất dinh dưỡng dễ dàng và hiệu quả chỉ có để cung cấp cho cơ thể năng lượng để làm mọi thứ, từ thở và suy nghĩ đến chạy và nhảy. Carbs cung cấp nhiên liệu cho hệ thần kinh trung ương, năng lượng cho cơ bắp làm việc. Bên cạnh đó, chúng cũng ngăn chặn protein được sử dụng tạo nên năng lượng, đồng thời carb còn cho phép các chất béo được chuyển hóa.
ThS. BS. Lê Thị Hải:
Carbs là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể. Thiếu carbs, bạn sẽ dễ gặp tình trạng mệt mỏi, thiếu năng lượng, ảnh hưởng đến cả thể chất lẫn tinh thần. Carbs chỉ có thể tăng lên hoặc giảm đi, không thể không có trong chế độ ăn hàng ngày.
3. Không phải tất cả carbs từ bánh mì đều giống nhau
Khi lựa chọn ngũ cốc chẳng hạn như bánh mì và thực phẩm từ bột mì, bao gồm bánh nướng xốp, bánh quế, bánh mì tròn và bánh ngô, hãy chọn các sản phẩm từ ngũ cốc nguyên hạt.
Ngũ cốc nguyên hạt là loại carbs tốt có chỉ số đường huyết (GI) thấp, chứa loại đường được cơ thể tiêu hóa và hấp thu chậm. Chúng sẽ làm cho đường trong máu tăng từ từ và giảm cũng từ từ. Do đó giúp điều hòa đường huyết và duy trì mức năng lượng ổn định tốt cho cơ thể.
Học viện Dinh dưỡng và Ăn kiêng Hoa Kỳ khuyến nghị nên tiêu thụ ít chỉ có một nửa số ngũ cốc của bạn ở dạng nguyên hạt. Ngũ cốc nguyên hạt bao gồm gạo lứt, hạt quinoa, yến mạch, mì ống làm từ lúa mì nguyên hạt và bánh mì nguyên hạt.
4. Trái cây và rau củ chứa carbs tốt cho sức khỏe
Trái cây và rau củ là 2 nhóm thực phẩm chính mà hầu hết chúng ta nên tăng cường tiêu thụ hàng ngày. Chúng cũng có một lượng lớn carbohydrate trong thành phần dinh dưỡng. Thường xuyên tiêu thụ trái cây và rau quả được các chuyên gia dinh dưỡng khuyến nghị trong xây dựng một chế độ ăn uống lành mạnh.
5. Nên tiêu thụ đường thế nào để tránh gây hại?
Về phương diện dinh dưỡng thì carbohydrate sinh năng lượng chia 2 nhóm là đường ngọt (sugary carbohydrate) vì có vị ngọt, và đường bột (starchy carbohydrate) vì là dẫn xuất từ chất tinh bột mà ra. Đường ngọt có thể hiện diện tự nhiên trong thực phẩm (chẳng hạn như trái cây ở dạng fructoza hoặc sữa ở dạng lactoza) hoặc có thể được thêm vào dưới tên đường mía, siro cây phong, mật hoa cây thùa, mật ong.
Đường là nguồn năng lượng chính của cơ thể. Khi thiếu đường sẽ không đủ năng lượng cho cơ thể hoạt động. Muốn tối ưu hóa sức khỏe và giảm cân cần tránh các loại thực phẩm chứa đường bổ sung, chỉ có là các loại đường tinh luyện.

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), con người nên giới hạn lượng đường ngọt dưới 10% tổng lượng calo tiêu thụ. Với người lớn, trưởng thành trung bình cần 2.000 calo mỗi ngày, thì lượng đường ngọt tiêu thụ nên dưới 200 calo, tương đương khoảng 50g hoặc 12 thìa cà phê.
6. Chất xơ cũng là một loại carb tốt
Chất xơ mang lại nhiều lợi ích sức khỏe, bao gồm cảm giác no, điều chỉnh lượng đường trong máu, quản lý cholesterol trong máu, điều hòa chức năng đường ruột. Chất xơ cũng thuộc loại carbohydrate phức tạp. Chất xơ tuy không cung cấp năng lượng trực tiếp, nhưng nó nuôi các vi khuẩn tốt trong hệ tiêu hóa. Những vi khuẩn này có thể sử dụng chất xơ để tạo ra acid béo mà một số tế bào của chúng ta có thể sử dụng làm năng lượng. Chất xơ có tự nhiên trong hoa quả, rau, ngũ cốc nguyên hạt, và các loại đậu đỗ đã nấu chín.
7. Khoảng một nửa lượng calo của chúng ta nên là carbs
Phạm vi phân phối chất dinh dưỡng đa lượng chấp nhận được (AMDR) đối với carbohydrate là 45-65% đối với người trưởng thành khỏe mạnh. Điều này có nghĩa là một người tiêu thụ chế độ ăn 2.000 calo nên ăn từ 900-1.300 calo, tương ứng là 225-325g, mỗi ngày dưới dạng carbohydrate. Điều này có vẻ cao nhưng hãy nhớ rằng carbohydrate được tìm thấy trong nhiều nhóm thực phẩm, bao gồm trái cây (như chuối), rau chứa tinh bột (như khoai tây), ngũ cốc (như gạo), protein (như đậu) và sữa (như sữa chua).
Nguồn: https://suckhoedoisong.vn/7-dieu-can-biet-ve-carbs-de-giam-can-va-co-suc-khoe-tot-169231213153956945.htm
Với khoảng 78 calo mỗi quả, trứng là nguồn cung cấp protein, vitamin và khoáng chất hiệu quả. Một quả trứng lớn chứa khoảng 6g protein. Trứng cũng là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng khác, bao gồm vitamin D (hỗ trợ sức khỏe xương và hệ miễn dịch) và choline (giúp trao đổi chất và chức năng gan cũng như sự phát triển não bộ của thai nhi).
Lòng đỏ trứng là nguồn cung cấp lutein và zeaxanthin đáng kể, được chứng minh là làm giảm nguy cơ đục thủy tinh thể và thoái hóa điểm vàng, nguyên nhân uy tín gây mù lòa ở những người từ 55 tuổi trở lên.
Nhưng lòng đỏ trứng cũng được biết đến với hàm lượng cholesterol cao. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là cholesterol khiến trứng trở thành một lựa chọn có hại. Ngày càng có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng trứng giàu chất dinh dưỡng và ăn một quả trứng mỗi ngày như một phần của chế độ ăn uống lành mạnh cho những người khỏe mạnh là điều hợp lý. Đồng thời không cần thiết phải loại bỏ trứng hoàn toàn khỏi danh sách thực phẩm của những người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Cholesterol trong máu – bao gồm HDL “tốt” và LDL “xấu” – là một trong những thước đo thiết yếu về sức khỏe tim mạch được Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ xác định. Một chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa có thể dẫn đến mức cholesterol LDL cao và hơn nữa dẫn đến sự tích tụ mảng bám trên thành động mạch. Điều này hạn chế lưu lượng máu và có thể dẫn đến đau tim hoặc đột quỵ.
Cholesterol được tìm thấy trong thực phẩm có nguồn gốc động vật. Theo tư vấn khoa học năm 2019 của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ về cholesterol trong chế độ ăn uống và nguy cơ tim mạch thì: thịt, trứng, bơ và các sản phẩm từ sữa đầy đủ chất béo là những nguồn cholesterol chính. Nó đặc biệt có nhiều trong các loại thịt đã qua chế biến như: xúc xích, bánh mì kẹp thịt hoặc các loại thực phẩm tương tự. Cholesterol cũng có thể được tìm thấy trong các món nướng làm từ trứng, bơ hoặc kem.
Mặc dù cholesterol trong chế độ ăn uống từng được coi là tác nhân gây ra bệnh tim, nhưng tư vấn khoa học năm 2019 cho biết các nghiên cứu nhìn chung không ủng hộ mối liên quan giữa cholesterol trong chế độ ăn uống và nguy cơ tim mạch.
Các nghiên cứu gần đây đã khám phá việc ăn trứng có thể tác động như thế nào đến cholesterol trong máu và kết quả sức khỏe ở những người có nguy cơ mắc bệnh tim. Những nghiên cứu này cho thấy lợi ích tiềm tàng của trứng khi trở thành một phần của chế độ ăn uống lành mạnh cho những người có yếu tố nguy cơ tim mạch.
Thông tin mới chỉ có về cholesterol trong chế độ ăn uống của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ cho biết, trong hơn nửa thế kỷ, các nhà khoa học đã tranh luận về vai trò của cholesterol trong chế độ ăn uống lành mạnh. Bởi vì nó thường liên quan đến chất béo bão hòa nên việc hạn chế cholesterol trong chế độ ăn uống, đặc biệt là bằng cách hạn chế tiêu thụ trứng, dường như có lợi cho những nỗ lực về sức khỏe tim mạch.
Gần đây hơn, việc tích lũy dữ liệu đã khiến các nhà nghiên cứu mở rộng suy nghĩ của họ về mức độ cholesterol trong chế độ ăn uống và trứng phù hợp với mô hình ăn uống lành mạnh như thế nào?
Giáo sư Linda Van Horn, Trưởng bộ phận Dinh dưỡng, Khoa Y tế dự phòng tại Trường Y khoa Feinberg của Đại học Northwestern (Chicago) cho biết, một quả trứng lớn chứa khoảng 200mg cholesterol. Vì vậy, việc ăn không quá hai hoặc ba lòng đỏ mỗi tuần được coi là phù hợp. Lòng trắng trứng không có nhiều cholesterol.
Theo Giáo sư Linda Van Horn, nếu mức cholesterol xấu LDL của bạn thấp, thì việc ăn một vài quả trứng mỗi tuần được coi là có thể chấp nhận được, tùy thuộc vào hàm lượng tổng thể của chế độ ăn.
Đối với những người có mức cholesterol LDL cao nên cân nhắc việc giảm nguồn chất béo bão hòa và cholesterol trong chế độ ăn uống, bởi vì chúng đều được coi là có nhiều khả năng góp phần hình thành mảng bám động mạch.
Cách tốt chỉ có là nên tập trung thực hiện chế độ ăn lành mạnh với việc ăn nhiều thực phẩm thực vật hơn như ngũ cốc nguyên hạt, trái cây và rau quả tươi; kết hợp ăn nhiều cá hơn, hạn chế calo và hoạt động thể chất thường xuyên, Giáo sư Linda Van Horn nhấn mạnh.
Nguồn: https://suckhoedoisong.vn/an-trung-co-lam-tang-cholesterol-hay-khong-16923092312102257.htm
Một số triệu chứng phổ biến sau sinh bao gồm tiết dịch hoặc chảy máu âm đạo, đau ngực, thay đổi tâm trạng và mệt mỏi, các dấu hiệu mất sữa, trầm cảm hoặc lo lắng sau sinh…
Đối mặt với những thay đổi về thể chất và tinh thần sau sinh, người mẹ cần phải nhận thức được cũng như tìm kiếm sự chăm sóc từ nhân viên y tế khi cần thiết.
Dưới đây là một số trục trặc phụ nữ sau sinh thường gặp và cách xử trí:
Tắc tia sữa là một tình trạng khá phổ biến, có thể gặp phải ngay trong tuần lễ đầu tiên sau khi em bé chào đời. Nếu không điều trị tắc tia sữa tốt, có thể làm cho bệnh nặng hơn gây viêm tuyến vú, áp xe vú rất nguy hiểm.
Theo Y học cổ truyền, tắc tia sữa – viêm tuyến vú thuộc phạm vi chứng nhũ ung. Để điều trị triệt để, cần phải thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, lợi sữa.
Các sản phụ nên nhận biết sớm những dấu hiệu tắc tia sữa như vú đau, sưng tấy, sờ vào có cục cứng, ấn vào đau, người phát sốt, đau tức ngực… ngay từ khi mới khởi phát để điều trị kịp thời, tránh bệnh tiến triển sang giai đoạn muộn, điều trị khó khăn.
Giai đoạn khởi phát này cũng là giai đoạn duy chỉ có mẹ có thể điều trị tại nhà và khỏi hẳn bằng cách đơn giản từ các vị thuốc gần gũi quanh ta như dùng củ gai, hành, lá bồ công anh… Cụ thể:
– Củ gai tươi giã nhuyễn hoặc xay rồi cho một chút muối vào trộn đều xong đắp vào bầu vú, đắp cả đầu ti, ngày thay 4-5 lần. Làm đến khi khỏi thì dừng.
– Lấy 1 nắm hành tươi, rửa sạch, dùng cả rễ xay hoặc giã nát. Sau đó nặn thành bánh, đắp lên vú. Dùng chai sành đựng nước nóng khoảng 70 độ hoặc dùng đèn hồng ngoại chườm lên bánh hành đến khi cảm thấy ấm nóng là được. Ngày làm 2 lần, làm đến khi khỏi hẳn thì thôi.
– Dùng 100g lá bồ công anh tươi rửa sạch, giã nát, lọc lấy nước uống, bã đắp tại chỗ vú bị đau. Hoặc dùng lá bồ công anh hơ nóng trên ngọn lửa đèn cồn, đắp thử trên da nóng vừa phải thì đem đắp vào quanh bầu vú. Làm liên tục 15-20 phút. Mỗi ngày làm 2-3 lần, duy trì đến khi khỏi thì dừng.
Sau khi sinh con, theo cơ chế thông thường cơ thể sẽ tự đào thải các chất cặn bã, máu xấu, sản dịch… ra ngoài. Khi cơ thể không thải trừ hết, sau một thời gian “thấm ngược” vào cơ thể, vào hệ thống kinh lạc – mạch máu mà gây ra các bệnh hậu sản. Đông y thường gọi là ác huyết, ác lộ hoặc huyết hôi.
Có một vài vị thuốc, món ăn dễ chế biến, hiệu quả cao giúp các mẹ nhanh hết sản dịch như dùng nghệ, các món ăn từ ngải cứu, rau ngót…
Nhiều chị em phụ nữ sau sinh gặp phải tình trạng bị lạnh chân tay. Hiện tượng này không chỉ làm ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày của các mẹ mà còn có thể là dấu hiệu cảnh báo về sức khỏe.
Theo Y học cổ truyền thì chứng này chủ yếu là do khí huyết hư cùng huyết ứ làm cho khí huyết nơi ngọn chi không đầy đủ gây ra chứng sợ lạnh, chân tay lạnh.
Để điều trị có thể sử dụng các phương pháp như thoa dầu khuynh diệp, dầu tràm; chườm nước nóng; ngâm chân bằng nước thảo dược. Các loại thảo dược thường được dùng để chế bột ngâm chân như gừng, hương nhu, bạch chỉ, dây đau xương, bạc hà, quế chi, ngải cứu, thương truật, hồng hoa…
Nguồn: https://suckhoedoisong.vn/3-van-de-thuong-gap-o-phu-nu-sau-sinh-va-cach-xu-tri-tai-nha-169230917160059482.htm
Sau khi sinh, phụ nữ mất nhiều máu nên chính khí suy yếu, tân dịch giảm, tấu lý (toàn bộ mạng lưới kinh lạc) sơ hở nên tà khí dễ xâm nhập. Các cụ ngày xưa kiêng khem rất kỹ: Kỵ gió, kỵ lạnh, kén chọn thức ăn…
– Kỵ gió là vì cơ thể còn yếu, tấu lý sơ hở, tà khí dễ xâm nhập để gây bệnh. Tuy nhiên, tránh gió không có nghĩa là nằm trong phòng đóng kín cửa, bịt kín các cửa làm cho không khí tụ đọng. Phụ nữ mới sinh xong đang yếu, nếu bịt kín cửa còn thêm khó thở. Trẻ mới sinh cũng cần không khí trong lành. Mặc dù, không nên ngồi ngay luồng gió thốc, tránh gió lùa nhưng cần thoáng khí.
– Kỵ lạnh vì sau khi sinh, thận khí, khí huyết suy nhược nên sợ lạnh. Sau khi sinh không nên đụng tới nước lạnh: Không tắm nước lạnh, không giặt quần áo, không uống nước đá lạnh. Có thể dùng khăn nóng lau mình, xông hơi sơ sơ cho mồ hôi vừa toát ra thì thôi, xông hơi nhiều cũng sẽ khiến cho cơ thể sản phụ bị mệt. Phụ nữ sau sinh không nên xông hơi ngay mà cần sau 1 tuần đối với sinh thường và sau 2 tuần đối với sinh mổ.
Một số biện pháp chữa chân tay lạnh sau sinh tại nhà:
Nên thoa dầu khuynh diệp, dầu tràm, chà sát cho nóng người giúp khí huyết vận hành mạnh hơn. Việc sử dụng “cồn bạc hà” là không nên vì menthol trong cồn bạc hà bay hơi nhanh tạo cảm giác lạnh.
Mỗi tuần thoa 3-4 lần, mỗi lần xoa 15 phút, thực hiện trong khoảng 1-2 tháng đầu. Tránh dùng kéo dài, thời gian mỗi lần thực hiện quá lâu làm thoát khí, lỗ chân lông rộng, tà khí dễ xâm nhập.
Dùng chai nước nóng hay túi cao su nước nóng để chườm bụng và hai bên bẹn. Việc này làm ấm bào cung và mạnh thận khí. Bào cung là gốc của ba mạch quan trọng là Nhâm mạch, Đốc mạch và Xung mạch. Làm ấm bào cung giúp cho cơ thể chóng hồi phục. Đới mạch chạy ngang thắt lưng và hai bên bẹn, khi sinh đẻ, mạch này bị ảnh hưởng rất nhiều. Chườm nóng lưng và hai bên bẹn giúp cho Đới mạch mạnh lên nên hết đau lưng và mỏi gối.
Hơn nữa, khi có thai, da bụng căng giãn. Sau khi sinh, da bụng lơi lỏng và nhăn nheo. Chườm nóng làm mạnh tuần hoàn cục bộ, giúp tăng sức đàn hồi bắp thịt và da, nhờ vậy da bụng bớt nhăn, bụng nhỏ lại.
Dùng hàng ngày, mỗi ngày làm 1-2 lần, mỗi lần từ 20-30 phút. Làm liên tục 2-3 tuần sau sinh. Lưu ý nhiệt độ khoảng 50-60 độ tránh bị bỏng, rát.
Lấy một cái chậu lòng sâu cho nước nóng khoảng 40 độ C vào 2/3 chậu, cho thêm khoảng 50g gừng phơi khô cắt nhỏ, 1 ít muối hạt hoặc có thể cho thêm các gói thảo dược ngâm chân bán sẵn ngoài hiệu thuốc Đông y.
Cho chân vào ngâm khoảng 15 phút, lượng nước trong chậu phải ngập quá mắt cá chân, thấy thân nhiệt tăng lên chứng tỏ hệ thống tuần hoàn máu lưu thông. Khi ngâm, hai chân cọ xát xoa vào nhau thì hiệu quả càng tốt hơn.
Mỗi tuần thực hiện 3-4 lần, mỗi lần ngâm không quá 15 phút. Duy trì trong khoảng 2-3 tháng sau sinh.
Để hiệu quả tốt chỉ có bạn nên đến các bệnh viện, chuyên khoa Y học cổ truyền thăm khám để có chẩn đoán và các bài thuốc phù hợp với từng thể.

Một chế độ dinh dưỡng và vận động hợp lý sẽ hỗ trợ bàn tay, bàn chân luôn ấm áp, ngay cả khi nhiệt độ môi trường xung quanh xuống thấp. Sau đây là một số biện pháp dự phòng chứng chân tay lạnh:
– Giữ ấm cơ thể: Khi thời tiết trở lạnh, cần đặc biệt chú ý giữ ấm tay chân, đặc biệt là bàn chân. Trong đó nên ưu tiên sử dụng các loại tất chân hoặc bao tay mềm mại, có khả năng giữ ấm cũng như thấm hút mồ hôi tốt.
– Hạn chế mang tất chân, bao tay hoặc mặc quần áo quá chật để giữ ấm vì như vậy cũng không tốt cho việc lưu thông máu trong cơ thể.
– Thường xuyên vận động: Vận động nhiều sẽ làm “ấm nóng” cơ thể, qua đó tăng cường và điều tiết quá trình tuần hoàn máu trong cơ thể. Vận động thường xuyên giúp giãn nở mạch máu và lưu thông khí huyết tốt hơn;
– Ăn uống hợp lý: Nên ăn những thực phẩm chứa nhiều calo và chất béo lành mạnh vì chúng cung cấp cho cơ thể nhiều năng lượng để sản sinh nhiệt lượng “sưởi ấm” cơ thể;
– Bổ sung thêm các loại vitamin nhóm B, vitamin C, vitamin E và các acid amin bằng thực phẩm. Các loại vitamin và khoáng chất này hỗ trợ sản sinh tế bào hồng cầu trong máu và tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.
Nguồn: https://suckhoedoisong.vn/3-cach-chua-chan-tay-lanh-cho-phu-nu-sau-sinh-tai-nha-169230922115205014.htm
Mặc dù có rất nhiều thông tin y tế chính thống về ung thư, nhưng thực tế lại chỉ có một vài trong số những thông tin này là tiếp cận được những người quan tâm. Việc tin vào thông tin sai lệch hoặc những lời đồn không có thật lại sẽ làm tăng khoảng cách giữa bệnh nhân và việc điều trị ung thư một cách hữu hiệu.
Sinh thiết là cách phổ biến chỉ có để các bác sĩ chẩn đoán ung thư. Trong quá trình sinh thiết, bác sĩ sẽ lấy một mẫu mô nhỏ từ khối u. Sau đó mẫu sinh thiết sẽ được quan sát dưới kính hiển vi để giúp bác sĩ đưa ra chẩn đoán.
Có nhiều kĩ thuật khác nhau để thu thập mẫu sinh thiết. Ví dụ, trong sinh thiết chọc hút bằng kim nhỏ, bác sĩ sẽ đưa một cây kim gắn với ống tiêm vào vùng cần lấy mẫu để lấy một lượng mô nhỏ vừa đủ để chẩn đoán bệnh. Còn trong sinh thiết cắt bỏ, bác sĩ sẽ loại bỏ toàn bộ khối nghi ngờ để kiểm tra.
Có một tin đồn rằng việc đâm kim vào một khối u có thể làm cho các tế bào ung thư lọt vào máu hoặc mạch bạch huyết và làm lây lan khối u. Điều này khiến nhiều bệnh nhân rất hoang mang. Một số người cũng có thể hiểu lầm rằng việc đâm kim vào sẽ “kích hoạt” khối u và làm cho nó phát triển nhanh hơn.
Ngoài ra, các thông tin sai lệch trên internet hoặc truyền miệng cũng có thể làm tăng sự lo lắng không cần thiết về sinh thiết. Một số nguồn thông tin không chính xác có thể lan truyền quan điểm sai lầm về sinh thiết và ung thư.
Trong khi đó, Giáo sư Jeffrey Gershenwald từ MD Anderson – trung tâm ung thư lớn chỉ có thế giới cho biết: Sinh thiết được thực hiện đúng kĩ thuật sẽ cung cấp nhiều thông tin cho việc chẩn đoán, xác định giai đoạn ung thư cũng như giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị tốt hơn.
Gieo mầm khối u hay gieo mầm ung thư bằng kim đề cập đến những trường hợp hiếm gặp khi kim đâm vào khối u trong quá trình sinh thiết, dẫn đến làm bong và phát tán các tế bào ung thư. Đôi khi, nó được gọi là dấu kim hoặc đường gieo mầm ung thư vì các tế bào ung thư phát triển dọc theo đường kim đi qua.
Trong các nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học đã nỗ lực xác định rủi ro và lợi ích của sinh thiết nhằm cung cấp thông tin tốt hơn cho bệnh nhân và bác sĩ. Một số nghiên cứu về các trường hợp riêng lẻ xác nhận rằng việc sinh thiết gây gieo mầm khối u rất hiếm khi xảy ra và lợi ích của sinh thiết vượt xa rủi ro.
Ví dụ, một đánh giá năm 2008 trên tạp chí Gut cho thấy việc lây lan khối u xảy ra ở 2,7% trường hợp sinh thiết ung thư gan. Tuy nhiên, nghiên cứu của BJU International năm 2015 đã xem xét các nghiên cứu trước đó và nhận thấy tỉ lệ lây lan này là rất thấp (dưới 1%).
Nghiên cứu năm 2013 trên tạp chí Endoscopy không tìm thấy sự khác biệt nào về tái phát ung thư ở 256 bệnh nhân ung thư tuyến tụy đã làm và không làm sinh thiết. Sau đó, một nghiên cứu khác vào năm 2015 trên Gut đã phát hiện ra rằng sinh thiết không liên quan đến việc tăng nguy cơ tử vong ở 2.034 bệnh nhân ung thư tuyến tụy.
Gần đây hơn, một nghiên cứu năm 2019 trên tạp chí Urology phát hiện ra rằng kĩ thuật sinh thiết lõi bằng kim an toàn và hiệu quả ở 42 bệnh nhân ung thư bàng quang và việc lây lan khối u không xảy ra sau 28 tháng theo dõi.
Nhìn chung, mặc dù việc lây lan khối u trong quá trình sinh thiết không phải là không thể xảy ra nhưng trường hợp này rất hiếm gặp.
Sinh thiết thường là cách tốt chỉ có để xác định chắc chắn liệu bạn có bị ung thư hay không. Mặc dù các công cụ khác, chẳng hạn như siêu âm và chụp cộng hưởng từ (MRI), có thể cho bác sĩ biết một vùng nghi ngờ có khối u. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, cách duy chỉ có để chẩn đoán xác định ung thư là thực hiện sinh thiết và quan sát những tế bào nghi ngờ ung thư dưới kính hiển vi.
Đôi khi, sinh thiết cho thấy vùng nghi ngờ chỉ chứa các tế bào lành tính hoặc không gây ung thư. Điều này có nghĩa là bạn không cần điều trị. Ngược lại, sinh thiết có thể cho bác sĩ biết mức độ ác tính và nghiêm trọng của bệnh ung thư, thể hiện bằng giai đoạn và cấp độ của bệnh. Hơn nữa, sinh thiết cũng có thể giải thích loại tế bào ung thư nào đang phát triển bên trong khối u. Tất cả những thông tin này nhằm giúp xác định hướng xử trí tốt chỉ có để điều trị ung thư.
Trong thời đại số hóa ngày nay, việc phân biệt giữa sự thật và tin đồn là vô cùng quan trọng, đặc biệt khi chúng ta đề cập đến các vấn đề sức khỏe. Rõ ràng, quan niệm “sinh thiết gây ung thư” là một trong những tin đồn không chính xác và có thể gây hại. Các bác sĩ chuyên khoa ung thư khuyên bạn nên tìm hiểu kỹ lưỡng và đặt niềm tin vào các nguồn thông tin chính thống và khoa học để mang lại lợi ích lâu dài cho sức khỏe và chất lượng cuộc sống của bạn.
Nguồn: https://suckhoedoisong.vn/sinh-thiet-co-tiep-tay-cho-ung-thu-di-can-169230906102909029.htm